PHẠM TUYÊN - MỘT ĐỜI NGƯỜI, MỘT THẾ KỶ
10/09/2026 1678
PHẠM TUYÊN - MỘT ĐỜI NGƯỜI, MỘT THẾ KỶ
Những điều trăn trở…
Từ khi còn là cậu thiếu niên 15 tuổi, lúc gia đình gặp nạn, trải qua chặng đường đời hơn 80 năm sau đó, Phạm Tuyên luôn canh cánh bên mình những suy nghĩ khắc khoải, những dự định, những hành động thiết thực nhất để khôi phục lại sự nghiệp cho người cha thân yêu - Học giả Phạm Quỳnh. Đây cũng là nguyện vọng của tất cả con cháu trong đại gia đình, những người suốt đời luôn ghi nhớ lời tâm niệm của Cụ: “Đối với nhà, làm thế nào để nối nghiệp cha ông; đối với nước, làm thế nào để giúp cho quốc hồn được tỉnh táo, nước được độc lập, dân được hạnh phúc”.
Riêng với Phạm Tuyên và anh trai Phạm Khuê, việc chọn con đường đi theo Cách mạng, hết lòng phục vụ Tổ Quốc, nhân dân, chính là để thực hiện nguyện ước của người cha kính yêu. Giáo sư Phạm Khuê (1925-2003), một người thầy thuốc hết lòng cứu chữa bệnh nhân từ ngày đầu kháng chiến gian khổ cho đến khi đất nước được hoà bình, là Nhà giáo Nhân dân đào tạo nhiều thế hệ bác sĩ, người đặt nền móng cho ngành Lão khoa của nền y tế nước nhà, Chủ tịch đầu tiên Hội người cao tuổi Việt Nam, Đại biểu quốc hội quê nhà Hải Dương. Sinh thời ông luôn trăn trở trong lòng về vụ án oan khắc của cha mình. Nhiều lần ông đau khổ tâm sự với Phạm Tuyên: “Tại sao người ta lại giết cha đến hai lần, một lần về thể xác, một lần về sự nghiệp văn học?!”. Đó cũng là nỗi đau giày vò Phạm Tuyên không kém anh mình.
Sau lần được đoàn tụ với các chị em ruột thịt tại Pháp đầu năm 1990, Phạm Tuyên càng quyết tâm bằng tất cả khả năng để phục hồi danh dự cho cha. Những chuyến về Huế tới mộ cha ở Chùa Vạn Phước, ngôi chùa nhỏ xinh, mà người góp phần gây dựng và hay đến đây đọc sách chính là Phạm Quỳnh, luôn làm Phạm Tuyên thấy trách nhiệm hơn, dẫu biết sẽ gặp nhiều khó khăn. Năm 1956, chị gái ông là bà Phạm Thị Hảo và em trai út Phạm Tuân đã đưa được hài cốt cha về an táng bên chùa Vạn Phước. Năm 1992, Phạm Tuyên cùng đại gia đình tu sửa lại ngôi mộ, kịp đến ngày trọng đại- cầu siêu cho thân phụ Phạm Quỳnh 100 năm. Trong khuôn viên mộ ông cho khắc dòng chữ nổi tiếng: “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn - Tiếng ta còn, nước ta còn”.
Ngay tại phòng khách nhà riêng Phạm Tuyên ở Hà Nội, nơi trang trọng nhất có treo một bức hoành phi được sao lại từ chùa Vạn Phước, viết bằng chữ Nho THỔ NẠP ÂU Á, chính là chữ mà Phạm Quỳnh trao cho chùa. Trong cuốn “Nhà văn hiện đại” nhà văn Vũ Ngọc Phan cắt nghĩa về bốn chữ này: “Ông (Phạm Quỳnh) là người đã chủ trương cái thuyết đọc sách Tây là để thâu thái lấy tư tưởng, lấy tinh thần văn hóa Âu Tây, để bồi bổ cho nền quốc văn còn khiếm khuyết, để chon lọc lấy cái hay của người mà dung hòa với cái hay của mình, ngõ hầu giữ gìn cho cái học của mình không mất bản sắc, mà vẫn có cơ tiến hóa được”. Con cháu trong gia đình họ Phạm đều thấu hiểu tinh thần đó và lấy làm phương châm để sống theo gương của Cụ.
Năm 1992 là một dấu mốc đáng nhớ, Phạm Tuyên quyết tâm làm được gì đó nhân dịp 100 năm ngày sinh cha mình. Thời gian này, nhờ có luồng gió “đổi mới” mà có nhiều vấn đề được nhìn nhận lại, và Phạm Quỳnh là tên tuổi bắt đầu được nhắc đến nhiều. Phạm Tuyên liên lạc với các nhà nghiên cứu văn học, trong đó có giáo sư Nguyễn Huệ Chi, rồi được sự ủng hộ nhiệt tình của giáo sư Phong Lê, Viện trưởng Viện Văn học khi đó, một kế hoạch tổ chức Hội thảo về Phạm Quỳnh được xúc tiến. Ngày ấn định Hội thảo diễn ra vào 17/12/1992. Rất nhiều nhà nghiên cứu văn học, nhà sử học đã viết tham luận gửi về, tất cả đều mong chờ đến thời khắc ấy. Phạm Tuyên tất tả ngược xuôi, lo lắng các việc. Ông đặt một họa sĩ ở cùng khu tập thể 128C Đại La thiết kế và thi công tấm pano cho Hội thảo.
Chiều tối ngày 16/12/1992, tấm pano được vận chuyển từ 128C Đại La lên Viện Văn học 20 Lý Thái Tổ, khi đó chỉ có cách chở bằng xích lô, quãng đường cũng tương đối xa, đồ lại cồng kềnh, quá to so với xe nên rất vất vả. Ngày cuối năm, gió mùa đông bắc kèm chút mưa phùn làm tăng thêm cái rét ở Hà Nội. Thế rồi bỗng cơn gió chợt rít mạnh lên, chiếc xe lảo đảo, tấm pano rơi xuống lòng đường, rách toác một đoạn. Phạm Tuyên nhận được tin báo mà bàng hoàng, ông linh cảm có điềm xấu…. Đúng vậy, chỉ một lúc sau, người từ Viện Văn học gọi điện tới báo: Cuộc hội thảo đã bị “trên” bắt dừng lại, không được tổ chức nữa, hoãn vô thời hạn.
Sau sự việc ấy Phạm Tuyên buồn lắm, ông hiểu là chưa đến thời điểm, chắc còn phải đợi, mà chưa biết là bao giờ cả. Nhưng không thể ngồi yên, còn nhiều cách khác và cũng còn nhiều “nhân chứng” với rất nhiều câu chuyện về thân phụ mà ông chưa biết. Cứ thế ông mải miết, cặm cụi, tìm người này, gặp người kia.
Năm 1997 nhà thơ Phạm Tiến Duật trong lần đi công tác, đã mang bản trường ca của Erik Stinus, một nhà thơ nổi tiếng Đan Mạch, với nhan đề khá đặc biệt “Phạm Quỳnh và câu chuyện còn tiếp tục”, như một món quà quý báu cho Phạm Tuyên. Phạm Tiến Duật cho biết là ông đã dời lại ngày về nước để lấy được bản dịch thô ra tiếng Anh với những câu mở đầu ấn tượng:
“Chúng ta phải thừa nhận rằng chúng ta đã sai lầm đối với Phạm Quỳnh.
Chúng ta không nên gọi ông là kẻ phản bội như trên những tờ truyền đơn hoặc bích trướng…
Xin hãy quan sát việc làm của ông ta như nhận xét công việc của bản thân mình…”.
Bản trường ca dài trên 300 câu và chỉ là sự tưởng tượng của nhà thơ, nhưng lại rất gần với nhân cách của Phạm Quỳnh. Sau này, qua một bà chị bên Pháp, Phạm Tuyên đã móc nối được với nhà thơ Erik Stinus. Nhà thơ cho biết ông đã từng sang Việt Nam ba lần, trong đó có dịp kỷ niệm 600 năm Nguyễn Trãi, ông đã gặp Tướng Giáp và một số lãnh đạo Việt Nam. Ông rất ngạc nhiên khi nghe nhiều nhà văn, nhà văn hóa Việt Nam nhắc tới Phạm Quỳnh với lòng cảm phục và thông cảm cho bi kịch lịch sử mà học giả phải chịu đựng.
Đến năm 2008, người cháu ruột Tôn Thất Thành (con bà Bình, chị gái Phạm Tuyên) vốn là nhà báo, vẫn lưu giữ, ghi chép rất nhiều tư liệu quý, đã lập ra trang Pham Ton’s Blog - nơi có thể đọc được nhiều điều chưa từng biết về Phạm Quỳnh trong không gian mạng. Phạm Tuyên mừng lắm và hết lòng ủng hộ người cháu kém mình 10 tuổi, rất thân thiết với ông từ thuở nhỏ.
Năm 2014 đại gia đình xây khu mộ ở quê hương, làng Hoa Đường khi xưa, lập bia tưởng niệm Phạm Quỳnh, bên cạnh dòng chữ nổi tiếng “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn - Tiếng ta còn, nước ta còn”, có thêm một cuốn thư với thủ bút của chính Thượng Chi - Phạm Quỳnh ngay trước khi lâm nạn, trong bài "Cô Kiều với tôi" viết ngày 22/8/1945: “Tiếng là nước, có tiếng mới có nước, có quốc văn mới có quốc gia".
Năm 2015 gia đình tu bổ lại mộ Phạm Quỳnh, dựng tượng cho ông trong khuôn viên nhỏ bên cạnh đó. Tháng 9/2015, nhân dịp 70 năm ngày mất, một cuộc hội thảo về nhà văn hóa Phạm Quỳnh đã được tổ chức ngay tại chùa Vạn Phước. Cả đại gia đình tụ tập về đây và Phạm Tuyên vô cùng xúc động được đón nhiều vị khách quý luôn trân trọng và muốn lưu danh tên tuổi của thân phụ ông.
Năm 2018, một tin vui đến với đại gia đình khi được mời tới Lễ trao giải văn hoá Phan Châu Trinh lần thứ XI - Học giả Phạm Quỳnh được tôn vinh danh nhân văn hoá Việt Nam thời hiện đại. Sự kiện được tổ chức tại Thành phố Hồ Chí Minh và Phạm Tuyên, lúc này đã gần 90 tuổi, quyết định bay vào dự, ông không thể bỏ lỡ một ngày trọng đại như vậy.
Hàng tháng trời trước khi diễn ra sự kiện ông đã ngẫm nghĩ nên phát biểu gì, từng câu, từng chữ cứ hiện ra trong đầu làm ông trằn trọc khó ngủ. Đêm trước Lễ trao giải ông đọc đi đọc lại diễn từ được chuẩn bị sẵn. Trên đường đến REX HOTEL, nơi tổ chức sự kiện, ông đưa con gái út cầm một số bản photo của bài viết đã soạn, con gái hỏi ông:
- Bố có kính sẵn đấy chưa?
- Bố không cần kính, bố thuộc lòng hết rồi...
Phạm Tuyên đã vượt một quãng đường xa, đã thao thức, hồi hộp chờ đợi phút vinh danh này... Người công bố giải thưởng thì nghẹn ngào xúc động, khán phòng vỗ tay dào dạt... Hôm nay quả là ngày đặc biệt của đại gia đình. Và ông cụ gần 90 tuổi bước lên diễn đàn sang sảng nói, bao nhiêu năm rồi ông mới có giọng sang sảng như vậy, có lẽ đã dồn hết tâm lực vào đó:
“Giải thưởng này là nguồn động viên lớn lao đối với đại gia đình chúng tôi. Hai bà chị của tôi, bà chị cả là vợ của Giáo sư Tôn Thất Bình, hiệu trưởng của trường Thăng Long, và bà chị thứ hai là vợ của Giáo sư Đặng Vũ Hỷ, khi nghe tin bộ phận khởi nghĩa ở Huế hành hung ông cụ tôi, đã cùng ông anh tôi là Giáo sư Phạm Khuê viết một bức thư để xin phép được gặp Hồ Chủ tịch. Rất bất ngờ là Cụ Hồ bảo mời hai chị em lên gặp. Và những lời hai bà chị tôi chia sẻ lại tôi tin hơn bất cứ những lời nào khác, bởi lẽ Cụ Hồ nói khi cách mạng mới thành công thì không tránh khỏi sai sót nên gia đình cố gắng đi theo cách mạng, làm việc cho tốt, ông cụ là người của lịch sử và lịch sử rất công bằng. Hai bà chị đã về nói lại với gia đình chúng tôi như thế và chúng tôi thấy đây là những lời nói rất chân thành.
Về sau này, một nhà văn là Sơn Tùng, ông ấy cũng điều tra tất cả những nhân vật của thời kỳ đó, và ông ấy viết ra một bài, mới nghe thì tất cả đều giật mình về mối quan hệ giữa Hồ Chí Minh (Nguyễn Ái Quốc) và Phạm Quỳnh, hai người gặp nhau ở bên Pháp như thế nào. Bài viết của ông vừa đưa ra thì dư luận hoan nghênh, nhưng cũng có ý kiến trái chiều: đây là nhà văn viết chứ có phải lịch sử đâu. Nhưng với gia đình chúng tôi đó là lịch sử và chúng tôi vượt qua tất cả những định kiến ấy để đóng góp cho xã hội sau này. Cho nên hôm nay, khi ban tổ chức đề nghị phát biểu về những đóng góp văn hoá của ông cụ thì tôi nói nên để cho dư luận xã hội đánh giá thì tốt hơn, còn từ phía gia đình sẽ tiếp nhận những gì dư luận xã hội đem lại.
Nhà văn Nguyễn Công Hoan cuối đời viết tác phẩm "Kép Tư Bền", ông nói ông viết truyện này vì thương Phạm Quỳnh lắm, vì biết gạt bỏ khó khăn để đi làm những việc tốt hơn. Tình cảm của nhà văn là như vậy, đến năm 1996, Kép Tư Bền đã được in lại. 10 năm sau Viện trưởng Viện Sử học Nguyễn Văn Tạo đã nhắc đến Phạm Quỳnh và báo Nam Phong. Điều ấy rất có ý nghĩa với gia đình. Vào tháng 7/2017, kỷ niệm 100 năm báo Nam Phong thì trong Nam ngoài Bắc, ở Huế, Sài Gòn, Hà Nội tất cả các tạp chí khoa học xã hội đều nhắc đến cả. Chúng tôi nghĩ rằng Giải thưởng Phan Châu Trinh này đã nhắc lại cho chúng ta hiểu về một vấn đề, đó là lịch sử cần phải được nhìn nhận lại. Tôi vẫn giữ mãi, đầy tâm huyết một câu, khi ngày xưa tôi học luật trên chiến khu Việt Bắc cùng nhà thơ Lê Đạt, anh ấy tặng cho tôi câu thơ: "Lịch sử muôn đời duyệt lại, không ai nói dối được cuộc đời”. Mặc dù chính thân phận của anh Lê Đạt bị quăng quật rất nhiều.
Từ cuối năm 1992 nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn có viết tham luận về nhà văn hoá Phạm Quỳnh, định tổ chức hội thảo thì "trên" bảo: thôi, đừng có hội thảo gì hết cả, đây gọi là ngăn chặn một sự đề xuất mới. Nhưng về sau anh Vương Trí Nhàn vẫn viết trên một tạp chí khoa học vào 7/2005. Có một điều rất vui và đặc biệt khi báo Tiền phong chủ nhật năm 2005 đăng loạt bài của nhà văn Xuân Ba, anh viết "Những uẩn khúc trong cuộc đời của ông chủ bút báo Nam Phong" ba số liền. Rồi nhà xuất bản Văn học in "Mười ngày ở Huế", PGS.TS Trịnh Bá Đĩnh (Viện Nghiên cứu Văn học - Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam) tuyển chọn, giới thiệu, NXB Văn học - Trung tâm Văn hóa ngôn ngữ Đông Tây ấn hành "Luận giải văn học và triết học". 2004 thì có "Pháp du hành trình nhật ký" do anh Vương Trí Nhàn in và được rất nhiều người theo dõi. Nhưng phải đến năm 2006, rất đáng chú ý là dưới chế độ của nước CHXHCNVN nhà sách Thời đại in toàn bộ "Thượng Chi văn tập", những bài viết mấy nghìn trang. Trước kia, lúc sinh thời người ta có đề nghị ông Phạm Quỳnh trích những bài hay trên Nam Phong làm thành Thượng Chi văn tập, năm 1936 có in những bản đầu tiên. Rất cảm động, là nhân dịp này, công ty Nhã Nam lại tái bản lần thứ 3 Thượng Chi Văn tập. Tôi nghĩ rằng đây là sự đánh giá lịch sử của giới văn hoá đất nước, không ai ngăn cản được.
Đến năm 2008 Nhà xuất bản Tri thức in tiểu luận viết bằng tiếng Pháp trong thời gian 1922-1932 về các cuộc du ký được đem ra thảo luận. Báo Hồn Việt năm 2008 có in những bài gọi là "Phạm Quỳnh người nặng lòng với nước", một cuộc phiêu lưu không tránh khỏi bi quan, bi đát. Trong Từ điển bách khoa xuất bản 2013, có mục Nam Phong - Pháp Việt đuề huề do nhà văn Nguyễn Huệ Chi viết, 10.000 danh nhân thế giới ở trong tạp chí mới cũng có tên Phạm Quỳnh.
Đây là dư luận xã hội đánh giá chứ không phải chủ quan của gia đình. Gần nhất, vào năm ngoái, đúng dịp 7/2017, tôi được rất nhiều nơi gửi sách báo kỷ niệm 100 năm báo Nam Phong. Sự động viên đó đối với tôi rất quan trọng và làm tôi nhớ lại khi tôi mới tham gia hoạt động văn nghệ thì những người anh lớn của tôi là Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Nguyễn Đình Thi gặp tôi đều nói: “Tuyên ơi, yên tâm đi, Nam Phong đã là sách gối đầu giường của chúng tôi, thế hệ chúng tôi. Sẽ có một sự đánh giá trở lại". Tôi nghĩ rằng đó là tình cảm thực sự của giới văn học nghệ thuật, giới trí thức Việt Nam.
Phạm Quỳnh là người suốt đời trung với nước, hiếu với dân, mặc dù số phận oan nghiệt, vẫn có thể mỉm cười nơi chín suối. Tâm nguyện của ông đã được thực hiện: nước đã độc lập, dân đã được sống ngày càng tự do và ấm no hơn, sự đóng góp của ông ngày hôm nay đã được nhìn nhận công bằng hơn và giúp ích cho đời như ông hằng mong ước. Vì vậy Giải thưởng Phan Châu Trinh lần này đã đáp ứng được lòng mong mỏi của giới trí thức cả nước khi vinh danh nhà văn hoá Phạm Quỳnh với những đóng góp về văn hoá và tinh thần yêu nươc sâu sắc của cụ ở đầu thế kỷ XX. Còn với con cháu của cụ Phạm thì đây là một niềm tự hào lớn, một sự ghi nhận của xã hội về sự đóng góp của cụ cho nền văn hoá của dân tộc”.
Phạm Tuyên vừa dứt lời, cả hội trường đứng dậy cùng với những tiếng vỗ tay không ngớt. Người con thứ chín của cụ Phạm Quỳnh, trải qua bao khó khăn, thử thách, để rồi ở chặng đường cuối của cuộc đời quyết tâm nói lên những điều tâm huyết về Cha mình. Ông không còn gì phải hổ thẹn, mà chỉ có niềm tự hào chất chứa trong mình.




